+ Trả lời bài viết
Hiện kết quả từ 1 tới 1 của 1

Chủ đề: Hình Ảnh Người Phụ Nữ Trong Chèo Cổ - PGS, TS Trần Trí Trắc

  1. #1

    Super Moderator

    Avatar của hoang.bao198x


    your profile
    Tham gia ngày
    May 2011
    Bài gửi
    649
    Cảm ơn
    220
    Được cảm ơn 397 lần trong 210 bài

    your profile

    Hình Ảnh Người Phụ Nữ Trong Chèo Cổ - PGS, TS Trần Trí Trắc

    Đối với cư dân nông nghiệp lúa nước, do bị chi phối bởi quan niệm âm dương, nên các yếu tố đất, nước, mây, mưa... đều mang tính âm – tính nữ với chức năng sinh sản, bảo tồn nòi giống. Do đó, trong văn hóa truyền thống Việt Nam, người phụ nữ đã được đề cao rất đặc biệt.

    1. Ở tiếng Việt, hầu hết các danh từ đều có mạo từ “cái”: cái bàn, cái ghế, cái nhà, cái cửa… Ngoài chức năng mạo từ, chữ “cái” còn được dùng như một tính từ để chỉ cái gì lớn, quan trọng, chủ yếu như: sông cái, đường cái, cửa cái, cột cái, người cầm cái… Bên cạnh chữ “cái”, còn có chữ “bà”, “mẹ”: con bướm bà, núi mẹ núi con… Đối với đời sống tâm linh, tục thờ nữ thần của người Việt đã xuất hiện từ lâu. Sau này, tuy có tuân theo thể chế phụ quyền, nhưng người phụ nữ vẫn được đề cao và chi phối nhiều khía cạnh sâu sắc trong gia đình. Do đó, khắp nơi trên đất Việt, đã có biết bao đền thờ Mẫu: Bà Trời, Bà Đất, Bà Nước, Bà Mây, Bà Mưa, Bà Sấm, Bà Chớp, các bà Ngũ hành nương nương, Ngũ phương chi thần, Ngũ đạo chi thần, Thập nhị hành khiển, 12 bà mụ, rồi Mẫu Thần Long, Mẹ Âu Cơ, Mẫu Liễu Hạnh... Đối với đời sống văn hóa xã hội, gia đình đã được đặt lên quan trọng hàng đầu (ngôi nhà, cái bếp, phụ nữ). Trong tâm thức các ông chồng Việt Nam, dù bậc vua quan đến dân thường, đều luôn luôn ẩn hiện những “luật bất thành văn”: “Nhất vợ, nhì trời”, “Lệnh ông không bằng cồng bà”, “Của chồng, công vợ”, “Phúc đức tại mẫu”, “Con dại, cái mang”... Sự sản sinh ra các loại hình nghề nghiệp ươm tơ, dệt vải, trồng lúa và cả nghề làm mộc cũng được nhân dân xếp nữ giới vào bậc tổ tiên… Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, những người phụ nữ Việt Nam đã trở thành đội quân tiên phong đặc biệt với các tên tuổi bất diệt như : Trưng Trắc, Trưng Nhị, Bà Triệu, Lê Chân, Dương Vân Nga, Lý Chiêu Hoàng, Trần Huyền Trân, Bùi Thị Xuân, Ngọc Hân...
    Do đó, tục trọng nữ là có căn nguyên từ điều kiện thiên nhiên, hình thái sản xuất kinh tế, cơ cấu tổ chức xã hội, ý thức tâm linh, tồn vong của gia đình và từ vai trò lớn lao thực sự của người phụ nữ Việt Nam trong sức mạnh, ý chí chống giặc ngoại xâm; trong đảm đang việc sản xuất, việc nhà; trong xây dựng những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc; trong cố kết cuộc sống gia đình, quan hệ huyết thống, dòng họ; trong lưu giữ, truyền bá những giá trị văn hóa dân tộc từ đời này sang đời khác... Họ là cái đẹp của quê hương, là văn minh của dân tộc, là giá trị nhân bản của lịch sử xã hội và là văn hóa trọng nữ của Việt Nam. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên, tuy nhiều quốc gia thuộc Đông Nam Á đều có tục thờ nữ thần, đều có nguyên lý Mẹ, nhưng chỉ có Việt Nam duy nhất mới có Đạo thờ Mẫu, mới có câu ca dao đưa vị thế của người Mẹ lên tới đỉnh cao vô biên, vô tận là “Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”…


    2. Người phụ nữ trong đạo Khổng, như chúng ta đã rõ, đã đối lập với đạo lí văn hóa truyền thống Việt Nam. Do đó, “nam tôn nữ ti” đã bị nhân dân Việt Nam phản kháng mạnh mẽ. Một trong những điển hình của sự phản kháng đó là nhân dân đã đề cao Bà Chúa Liễu cùng với những câu ca: “Ba đồng một mớ đàn ông/ Đem bỏ vào lồng cho kiến nó tha/ Ba trăm một mụ đàn bà/ Đem về mà trải chiếu hoa mời ngồi”.

    Hơn nữa, ngay những bậc nho sĩ theo đạo Khổng cũng phải thốt lên: “Đau đớn thay phận đàn bà” và không ngại ngần tham gia vào cuộc đấu tranh bảo vệ phụ nữ, lên án gay gắt Nho giáo như một học thuyết “đàn áp nữ quyền” chống lại chế độ phong kiến. Từ Hồ Xuân Hương, Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều cho đến Nguyễn Du đều bênh vực người phụ nữ. Rồi những nhà điêu khắc dân gian đã dựng những người phụ nữ “tai ương” vào chốn trang nghiêm của trung tâm chính trị làng xã. Như: ở đình Tiên Chương có cảnh cô gái đang tắm và mấy chàng trai nhìn trộm…
    Cùng với trào lưu đấu tranh bảo vệ văn hóa trọng nữ của dân tộc trong văn nghệ dân gian và bác học, các nghệ sĩ chèo cổ đã thể hiện bằng tinh thần: lấy hình ảnh người phụ nữ làm đối tượng trung tâm để tấn công vào thành lũy của ý thức hệ phong kiến đang suy tàn trong các vở chèo cổ của mình. Do đó, không phải ngẫu nhiên, dù ở Chèo cổ thường được mang tên một nhân vật nam nào đó, thì khán giả vẫn cứ gọi vở bằng tên các nhân vật nữ. Như: vở Kim Nham gọi là Xúy Vân, vở Tôn Mạnh – Tôn Trọng gọi là Trinh Nguyên, vở Chu Mãi Thần gọi là Thiệt Thê, vở Lưu Bình – Dương Lễ gọi là Châu Long, vở Trương Viên gọi là Thị Phương... Thông qua đó, có người đã khẳng định rằng: không có nhân vật nữ làm chủ đạo – bất thành Chèo cổ. Nguyên nhân của hiện tượng này, một mặt vì những người phụ nữ hiền thục, đảm đang, hiếu thuận, giàu lòng vị tha, hết lòng sống vì chồng, vì con, là cái đẹp của văn hóa dân tộc, là cái thiêng liêng, xúc cảm của Chèo và Chèo cổ không thể không có họ để làm đẹp, hấp dẫn cho mình; mặt khác, những người phụ nữ bước vào Chèo không phải để khẳng định mình, tự đề cao, làm đẹp cho mình, mà chủ yếu thành phương tiện độc đáo, hữu hiệu cho mục đích phản phong của Chèo. Vì vậy, có thể nói, mục đích của Chèo cổ là phản phong và phương tiện để thực hiện mục đích ấy là hình ảnh những người phụ nữ. Không có mục đích phản phong và không có hình ảnh người phụ nữ làm phương tiện thì không có Chèo cổ.

    Hình ảnh người phụ nữ trong Chèo cổ, qua nghiên cứu ta thấy, các nghệ sĩ đã chia họ ra làm hai nhóm cơ bản: nhóm nữ thuận (nữ chín) và nhóm nữ nghịch (nữ lệch).

    Nhóm nữ thuận – là những người phụ nữ tuân theo mọi quy định của lễ giáo phong kiến : tứ đức, tam tòng, đảm đang, nết na, chung thủy... Họ là tấm gương trong sáng cho mọi người soi vào học tập, noi theo.

    Đó là Trinh Nguyên trong vở Tôn Mạnh – Tôn Trọng, một người phụ nữ trẻ đẹp, nết na, đã tình nguyện chọn đứa con trai dứt ruột đẻ ra của mình để chết thay con chồng, góp phần phủ định quan niệm sai về người phụ nữ Việt Nam dưới thời phong kiến : “Mấy đời bánh đúc có xương, Mấy đời dì ghẻ lại thương con chồng”.

    Đó là Thị Phương trong vở Trương Viên, 18 năm vất vả, vẫn một lòng thủy chung với chồng nơi xa, vẫn thành tâm nuôi mẹ chồng hết mực..., góp phần phủ định quan niệm sai về tình mẹ chồng nàng dâu dưới thời phong kiến: “Thật thà cũng thể lái trâu, Yêu nhau cũng thể con dâu mẹ chồng”.

    Đó là Châu Long trong vở Lưu Bình – Dương Lễ đã đi nuôi bạn thay chồng vẫn giữ được đạo vợ chồng thủy chung, nghĩa bạn bè trong sáng, là hình mẫu cao đẹp để phủ định quan niệm sai lầm dưới thời phong kiến là: “Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”, “Tin bạn mất vợ, tin vợ mất bò”...

    Đó là Thị Kính trong vở Quan Âm Thị Kính chịu oan khuất giết chồng, tằng tịu với ả Thị Màu để có con..., là phương tiện màu nhiệm để phủ nhận quan niệm “ở hiền gặp lành”, “tu là cõi phúc”.

    Những nhân vật thuộc nhóm nữ thuận trên, được các nghệ sĩ chèo cổ đề cao và khẳng định mọi giá trị chân chính của họ trong hạnh phúc gia đình, trong đạo lí làm người, trong văn hóa xã hội theo truyền thống Việt Nam, đồng thời cũng là những hành động kiên quyết của nghệ sĩ chống lại những ràng buộc, coi thường, khinh rẻ phụ nữ theo quan niệm phong kiến – ngoại lai. Thật hiển nhiên, xưa Bồ Tát nói: phàm nhẫn nhịn làm điều từ bi, điều ác đền đáp lại bằng điều thiện, đó là Bồ Tát cao cả. Vậy Thị Kính chính là Bồ Tát. Một Bồ Tát khác lại nói: có người cắt thịt mình cho diều hâu ăn để cứu chim bồ câu thoát chết sẽ là Bồ Tát. Vậy Thị Phương cũng là Bồ Tát. Có người lại bảo: giúp một người sa cơ lỡ vận thành người có công danh hữu ích – là Bồ Tát. Châu Long đã giữ chữ Tín cho chồng, chữ Nghĩa cho bạn bè là những bậc “công hầu khanh tướng” chính là Bồ Tát... Phụ nữ Việt Nam đâu phải là “nữ nhi thường tình” mà đều là Bồ Tát ở giữa trần gian, trái với lễ giáo phong kiến. Vì vậy, sau lời ca về những người ở nhóm nữ thuận là nụ cười châm biếm “tiềm đài từ” của khán giả đối với lễ giáo phong kiến đương thời. Không làm nên được nụ cười châm biếm “tiềm đài từ” đó, thì không phải là Chèo cổ thể hiện những hình ảnh người phụ nữ chân chính Việt Nam. Nhóm nữ nghịch bao gồm những người phụ nữ có tư duy, tình cảm, hành động trái với lễ giáo phong kiến, không tuân theo phép tắc của Thánh hiền.

    Đó là Xúy Vân trong vở Kim Nham đã giả điên để ruồng rẫy chồng và đi theo trai Trần Phương ; là Thị Màu trong vở Quan Âm Thị Kính đã lên chùa ghẹo tiểu Kính, về nhà ngủ với Nô (người ở) có con, không sợ cha, sợ mẹ, sợ làng xóm, sợ phạt vạ của xã ; là Thiệt Thê trong vở Chu Mãi Thần bỏ chồng làm thiếp của Tuần Ty; là Sùng Bà, Đào Huế đã làm cho Sùng Ông, Tuần Ty bạt vía, tuân lời...
    Thông qua những hình ảnh của nhóm nữ nghịch này ở trong Chèo cổ, chúng ta thấy một hiện thực xã hội phong kiến không còn đạo lí cương thường “tứ đức, tam tòng” nữa : cha không dạy được con, chồng không bảo được vợ, các bậc “quan phụ mẫu” không nói được dân... Tất cả đã đảo lộn, nháo nhào.

    Mặt khác, cũng thông qua hành động, nhân cách của nhóm nữ nghịch này, chúng ta còn thấy khán giả không hề ghét bỏ, căm giận họ như loại nhân vật phản diện ở Tuồng hoặc Kịch nói, mà ngược lại, có phần hào hứng, ủng hộ, hùa theo và yêu thích nữa. Thật hiển nhiên, ai cũng thích Thị Màu lẳng lơ, ai cũng vừa lòng với cái “ghen” của Đào Huế, cũng đồng tình với “nội tướng” của Sùng Bà lấn át chồng con...

    Nguyên nhân của hiện tượng này bởi nhóm nữ nghịch đã trở thành phương tiện phản phong trực diện của nghệ sĩ chèo cổ đối với lễ giáo phong kiến. Nếu nhóm thứ nhất – là những phụ nữ thuận theo lễ giáo phong kiến mà không được hạnh phúc, thì nhóm thứ hai là hành động của nghệ sĩ mang tinh thần nổi loạn, đập phá, phủ định để tự giải thoát mình theo “lễ giáo” của mình. Khán giả chính là hiện thân của nghệ sĩ, của nhóm nữ nghịch trên sân khấu đang hành động theo ý thức phản phong của thời đại.


    3. Song song với tư tưởng văn hóa truyền thống trọng nữ của Việt Nam là hiện thực đang suy vong của lễ giáo phong kiến của thời đại Lê Mạt – Tây Sơn – Nguyễn. Vì vậy, nội dung cơ bản của Chèo cổ ở thời kì này đã mang tinh thần phê phán rất cao và người phụ nữ đã trở thành phương tiện phản phong vô cùng sắc bén, hấp dẫn. Nếu ai bảo rằng: Chèo cổ mang tính giáo huấn hoặc khuyến giáo, thì theo tôi, tính giáo huấn và khuyến giáo đó chính là mục đích và nội dung văn hóa phản phong, đề cao người phụ nữ của Chèo. Bởi những tác phẩm văn học nghệ thuật nói chung và Chèo nói riêng ở giai đoạn này đều không nhằm thuyết lí cho một nguyên tắc đạo đức nào, mà chủ yếu hướng tới đề cao tình cảm tự nhiên của con người, tạo cho văn học nghệ thuật có giá trị nhận thức và phản ánh rõ rệt.

    Nho giáo
    thất thế trong “đời loạn”, Phật giáo và Đạo giáo lánh đời ẩn dật nên Chèo dù có phản phong rất tích cực, thì cũng không thể dẫn dắt được khán giả tiến tới một trật tự xã hội công bằng, văn minh hơn và chỉ dừng lại ở văn hóa phản phong bằng tiếng cười châm biếm vui vẻ thông qua hình tượng người phụ nữ trong ngày hội làng mà thôi.

    Nguồn: Nghethuatbieudien.vn

    View more latest threads same category:


  2. Có 2 thành viên dưới đây đã cảm ơn hoang.bao198x vì bài viết này.

    CoCoMy (26-12-2011), nam sơn đạo nhân (26-12-2011)

+ Trả lời bài viết

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình